Khoa học
công nghệ thủy lợi
phục vụ
phát triển bền vững
Tin tức > Tin hoạt động viện
Tin nghiệm thu đề tài khoa học công nghệ cấp cơ sở
Ngày 16 và 22 tháng 4 năm 2011, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam đã tổ chức nghiệm thu chính thức các đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở do Viện thực hiện trong 2 năm 2009-2010. Sau đây là một số thông tin chính về kết quả nghiệm thu:

Ngày 16 và 22 tháng 4 năm 2011, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam đã tổ chức nghiệm thu chính thức các đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở do Viện thực hiện trong 2 năm 2009-2010. Sau đây là một số thông tin chính về kết quả nghiệm thu:

1/ Đề tài Nghiên cứu biện pháp xử lý chất thải từ nuôi cá tra bằng biện pháp sinh học đơn giản (Chủ nhiệm đề tài: ThS. Đồng Thị An Thụy).

Mục tiêu đề tài là xác định được mức độ suy giảm chất lượng nước do nuôi cá tra; xác định hiệu quả hấp thu và chuyển hóa chất ô nhiễm của các đối tượng sinh học và đề xuất quy trình xử lý chất thải từ nuôi cá tra cho vùng ĐBSCL.

Đề tài đã thử nghiệm mô hình xử lý nước thải từ nuôi cá tra bằng hồ sinh học; bằng cánh đồng tưới nông nghiệp (áp dụng cho cây lúa). Kết quả nghiên cứu cho thấy hồ sinh học có thể xử lý được các hợp chất NH4+, PO4 3-và các hợp chất hữu cơ, tuy nhiên giải pháp xử lý này chưa triệt để vì chưa tách bỏ hoàn toàn lượng N cũng như chất hữu cơ ra khỏi nguồn nước. Giải pháp cánh đồng tưới cho thấy cây lúa hấp thu khá nhanh NH4+, loại bỏ trên 70% tổng N ra khỏi nguồn nước sau 33 giờ tưới lúa từ nước thải nuôi cá tra.

Hội đồng nghiệm thu đã nghiệm thu đề tài loại Xuất sắc (35/40 điểm).

2/ Đề tài Nghiên cứu biện pháp xử lý nước thải cho các nhà máy chế biến khoai mì quy mô nhỏ vùng miền Đông Nam bộ (Chủ nhiệm đề tài: KS. Mai Thị Tuyết Tâm).

Mục tiêu đề tài là xác định được hiệu quả xử lý nước thải từ chế biến tinh bột khoai mỳ bằng mô hình UASB kết hợp với vi sinh vật dính bám và hồ sinh học; đề xuât được biện pháp xử lý nước thải khả thi cho các cơ sở chế biến quy mô nhỏ ở vùng Đông Nam bộ.

Đề tài đã thử nghiệm mô hình xử lý UASB và Hybrid (có vật liệu dính bám) kết hợp xử lý bằng hồ sinh học.

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng vật liệu lọc phía trên cột UASB đã làm tăng hiệu quả xử lý của cột lên từ 9-14% so với cột không có cá thể dính bám. Nước thải sau khi xử lý qua các cột mô hình kỵ khí giá trị COD còn rất cao, sau khi được xử lý tiếp tục qua các hồ kỵ khí có thể đáp ứng được các tiêu chuẩn về xả thải ra môi trường. Giải pháp xử lý hoàn toàn bằng hồ sinh học cũng có thể xử lý chất ô nhiễm có trong nước thải khoai mỳ, khá phù hợp với các nhà máy quy mô nhỏ vùng Đông Nam bộ.

Hội đồng nghiệm thu đã nghiệm thu đề tài loại Khá (33,8/40 điểm).

3/ Đề tài Nghiên cứu chế tạo bê tông từ cốt liệu có hàm lượng sét và muối cao để sử dụng vào các mục đích khác nhau (Chủ nhiệm đề tài: ThS. Khương Văn Huân)

Mục tiêu đề tài là xác định được cơ sở khoa học khi dùng cát có hàm lượng muối cao để chế tạo bê tông phục vụ xây dựng các công trình hạ tầng nông nghiệp và thủy lợi.

Đề tài đã đề xuất và thử nghiệm các giải pháp kỹ thuật đối với cát biển:

+ Giới hạn hàm lượng ion clo, sulfat của cát nhiễm mặn trên cơ sở giới hạn tổng thể tạp chất trong hỗn hợp bê tông;

+ Thử nghiệm trong môi trường nhiễm mặn, môi trường không khí, môi trường nước có các hàm lượng muối khác nhau;

+ Thử nghiệm một số phụ gia;

+ Giảm lượng ion clo bằng biện pháp rửa cát với nước có hàm lượng muối thấp.

Kết quả nghiên cứu cho thấy sử dụng cát biển nhiễm mặn không ảnh hưởng đáng kế tới sự phát triển cường độ bê tông, tuy nhiên do cát biển là loại hạt mịn nên lượng xi măng dùng cao hơn thông thường.

Đề tài kiến nghị có thể dùng cát biển để chế tạo bê tông khi thỏa mãn tổng lượng ion clo không quá 1,9 kg/1m3 bê tông. Có thể sử dụng cát biển chế tạo bê tông không cốt thép cho các công trình làm việc trong môi trường nước có độ mặn nhỏ hơn 30g/l. Đối với bê tông cốt thép có thể sử dụng cát biển để chế tạo các kết cấu làm việc trong môi trường nước có hàm lượng ion clo nhỏ hơn 4g/l (tương đương độ mặn khoảng 7g/l).

Hội đồng nghiệm thu đã nghiệm thu đề tài loại Khá (32,8/40 điểm).

4/ Đề tài:"Nghiên cứu chế độ thủy lực, đánh giá ảnh hưởng và đề xuất các giải pháp khắc phục hạn chế sạt lở bờ do khai thác cát trên sông Đồng Nai tại khu vực cầu Hóa An, thành phố Biên Hòa" (chủ nhiệm: ThS. Nguyễn Đức Vượng);

Mục tiêu của đề tài là xác định ảnh hưởng khi khai thác cát gây sạt lở bờ sông và đề xuất giải pháp khắc phục, hạn chế sạt lở bờ do khai thác cát trên sông Đồng Nai tại khu vực cầu Thạnh Hoá, thành phố Biên Hoà.

Kết quả nghiên cứu cho thấy: Bằng thiết bị, công nghệ hiện đại kết hợp với mô hình toán 1D,2D, đề tài đã đề xuất giải pháp kỹ thuật khai thác cát mang tính khả thi, khắc phục sạt lở bờ. Kết quả của đề tài là cơ sở giúp các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc quản lý khai thác khoáng sản (mỏ cát) một cách hợp lý.

Hội đồng nghiệm thu đã nghiệm thu đề tài loại Khá (32/40 điểm).

KTCat001.jpg

KTCat002.jpg
KTCat003.jpg KTCat004.jpg

Một số hình ảnh khai thác cát và sạt lở bờ tại Cầu Thạnh Hoá - TP. Biên Hoà

Phòng Kế hoạch - VKHTLMN

Các tin Tin hoạt động viện khác
Ngày 30/6/2011, tại Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam đã họp Hội đồng nghiệm thu cấp Nhà nước để đánh giá kết quả đề tài KHCN độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp chống ngập cho Tp. Hồ Chí Minh”
Ngày 3/4/2011, tại Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam đã diễn ra buổi họp Hội đồng nghiệm thu KHCN cấp Nhà nước đề tài “Đánh giá suy thoái môi trường trong quá trình chuyển đổi đất nông lâm sang nuôi trồng thuỷ sản ở các huyện ven biển Đồng bằng sông Cửu long và đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên đất”.
Ngày 2-11, Hội Thủy lợi TP.HCM đã có buổi báo cáo khoa học về quy hoạch tổng thể chống triều cường gây ngập úng cho TP.HCM (theo quyết định 1547 của Thủ tướng Chính phủ).
Đề tài Độc lập cấp Nhà nước, mã số ĐTĐL.2012-T/25 mang tên Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thủy lợi phục vụ sản xuất lúa vụ Thu Đông ở Đồng bằng sông Cửu Long do Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam là cơ quan chủ trì, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam là cơ quan thực hiện đề tài, GS.TS. Tăng Đức Thắng làm chủ nhiệm đề tài đã được Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức nghiệm thu cấp Nhà nước (theo Quyết định thành lập Hội đồng nghiệm thu cấp Nhà nước số 99/QĐ-BKHCN ngày 17/01/2017 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.
Đề tài Độc lập cấp Nhà nước, mã số ĐTĐL2007T/47 mang tên "Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của quá trình phát triển kinh tế xã hội tới môi trường sông Thị Vải và vùng phụ cận. Đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường"
Đề tài Độc lập cấp Nhà nước, mã số ĐTĐL.2007G/28 mang tên Nghiên cứu các giải pháp thủy lợi nhằm khai thác bền vững vùng Bán đảo Cà Mau do Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam là cơ quan chủ trì, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam là cơ quan thực hiện đề tài, PGS.TS. Tăng Đức Thắng làm chủ nhiệm
Ngày 11 tháng 4 năm 2012  Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam đã  tiếp Đoàn Đại học SRIWIJAYA – Indonesia. Đoàn gồm 16 nghiên cứu sinh và 4 giảng viên sau Đại học do GS.TS. Robiyanto H. Susanto, Trưởng Chương trình tiến sỹ và thạc sỹ về môi trường, phụ trách Chương  trình thạc sỹ về Quản lý quy hoạch và phát triển tổng hợp vùng đất thấp của Trường.
Lễ bảo vệ luận án Tiến kỹ kỹ thuật cho nghiên cứu sinh Huỳnh Chức với đề tài "Nghiên cứu cơ sở khoa học đánh giá và quản lý chất lượng nước các điểm nguồn cấp nước sinh hoạt trên sông Sài Gòn thuộc hệ thống sông Đồng Nai". Chuyên ngành Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước, mã số 62 - 62 - 30 – 01.
Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam đã báo cáo Vụ Giáo Dục Đại học - Bộ Giáo Dục và Đào tạo việc cập nhật thông tin 02 chuyên ngành đào tạo: Địa kỹ thuật xây dựng và Môi trường đất và nước như sau:
Ngày 25/02/2012 tại TP. Hồ Chí Minh, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam đã tổ chức Lễ bảo vệ luận án Tiến kỹ kỹ thuật cho nghiên cứu sinh Khương Văn Huân với đề tài Nghiên cứu ảnh  hưởng  sự phát triển cường độ bê tông đến tính chống thấm của nó trong môi trường chua phèn khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Ngày 9/12/2009 tại Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam (TP. Hồ Chí Minh), Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề Khoa học và công nghệ thủy lợi phục vụ kinh tế xã hội các tỉnh phía Nam. Đây là một trong những hoạt động khoa học công nghệ của Viện hướng tới kỷ niệm 50 năm xây dựng và phát triển của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam (1959-2009)
Dùng WISDOM, người dân biết nước lũ đang ở đâu, khi nào ảnh hưởng trực tiếp đến mình, ngoài ra còn biết được sự xâm mặn ở mức độ nào, ô nhiễm về môi trường ra sao.
181-192/195 tin
Liên kết web