ISO 9001:2008

         

 

Tin tức & Sự kiện

 

Dự báo mặn ĐBSCL

 

Dự báo lũ ĐBSCL

 

Hợp tác Quốc tế

 

Hoạt động NCKH

 

Hội đồng Khoa học

 

Đào tạo

 

Hoạt động Công đoàn

 

Hoạt động Đoàn TN

 

Thư viện

 

Văn bản Pháp quy

 

Tóm tắt tuyển tập KHCN các năm

 

Diễn đàn thảo luận

 

Tìm kiếm







THỜI TIẾT

TỶ GIÁ NGOẠI TỆ


Lượt truy cập thứ

17112  


30 NĂM TRƯỞNG THÀNH VÀ PHÁT TRIỂ

 

VIỆN KHOA HỌC THUỶ LỢI MIỀN NAM
Southern Institute of Water Resources Research (
SIWRR)

 

 

Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam là cơ quan sự nghiệp khoa học công nghệ và đào tạo sau đại học về thủy lợi ở phía Nam, trực thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam.


- Trụ sở chính : 658 Võ Văn Kiệt, phường 1, quận 5, TP.Hồ chí Minh
- Cơ sở 2 : Thuận Giao, Thuận An, Bình Dương
- Điện thoại : (08) 39238320- 38366148
- Fax : (08) 39235028
- E-mail : vkhtlmn@hcm.vnn.vn; vkhtlmn@gmail.com

- Website : www.siwrr.org.vn
- Quyết định thành lập : số 864 QĐ/TC ngày 19/8/1978 của Bộ trưởng Bộ Thủy lợi (cũ)

- Quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức theo Quyết định số 2862/QĐ-BNN-TCCB ngày 18/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
- Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ số A-106 ngày 07/12/2011 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.
 


 

VIỆN KHOA HỌC THỦY LỢI MIỀN NAM - 35 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN (19/8/1978 - 19/8/2013)

Sau ngày miền Nam được giải phóng, Viện Nghiên cứu Khoa học Thủy lợi (thuộc Bộ Thủy lợi cũ) đã cử một tổ công tác vào miền Nam để tìm hiểu các vấn đề về khoa học thủy lợi ở Đồng bằng sông Cửu Long như cải tạo đất mặn, đất chua phèn, tưới tiêu cho cây trồng, chỉnh trị sông và bảo vệ bờ, xây dựng công trình trên nền đất yếu v.v…Trên cơ sở các kết quả tiền trạm, từ năm 1978 Bộ Thủy lợi đã thành lập Phân Viện Nghiên cứu Khoa học Thủy lợi miền Nam trực thuộc Viện Nghiên cứu Khoa học Thủy lợi, sau đó phát triển thành Viện Nghiên cứu Khoa học Thủy lợi Nam bộ trực thuộc Bộ (1990), và chuyển thành Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam từ năm 1997 đến nay. Năm 1996, khi Nhà nước sắp xếp lại các cơ quan nghiên cứu triển khai khoa học và công nghệ, Viện được công nhận là một trong 42 Viện nghiên cứu khoa học trong cả nước.

Từ tháng 5/2007, do yêu cầu nhiệm vụ mới, Viện Khoa học Thủy lợi tại Hà Nội và Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam được tổ chức, sắp xếp lại thành Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam theo Quyết định số 594/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Hiện nay Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam là viện vùng, đơn vị thành viên trực thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam.

Trong suốt 35 năm xây dựng và phát triển, hoạt động của Viện luôn luôn đồng hành với sự nghiệp phát triển nông nghiệp - nông thôn, phát triển thủy lợi ở các tỉnh phía Nam, đồng thời Viện luôn là một trong những cơ quan khoa học công nghệ tiên phong nghiên cứu, giải quyết những vấn đề khoa học mới nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở các tỉnh phía Nam.

Những chặng đường phát triển tiêu biểu của Viện:

+ Giai đoạn 1978- 1982: Phân Viện mới được thành lập, nhiệm vụ chủ yếu trong giai đoạn này là: Xây dựng và củng cố lực lượng, tiến hành một số thí nghiệm thủy nông mang tính chất thăm dò, định hướng trong các lĩnh vực: nhu cầu nước cho lúa và cây trồng cạn, cải tạo đất chua phèn, đất mặn bằng biện pháp thủy lợi, thu thập tích lũy cơ sở dữ liệu về sông ngòi, dòng chảy, địa chất nền móng, thủy công đồng bằng, thủy lực công trình...

+ Giai đoạn 1983- 1990: Phân Viện củng cố tổ chức và năng lực nghiên cứu chuẩn bị chuyển thành Viện trực thuộc Bộ. Các nhiệm vụ chủ yếu trong giai đoạn này là: tham gia nghiên cứu và chủ trì một số đề tài khoa học trong kế hoạch khoa học 1981- 1985 và 1986-1990. Tham gia công tác nghiên cứu và thí nghiệm phục vụ các công trình trọng điểm của Bộ Thủy lợi (cũ) ở các tỉnh phía Nam. Phát triển mạng lưới trạm nghiên cứu thủy nông tại các vùng đất đặc thù của Nam bộ như Mỹ Lâm (Kiên Giang), Tân Thạnh (Long An), Tân Mỹ Chánh (Tiền Giang), Thủ Đức (TP.HCM) v.v...

+ Giai đoạn 1991-2008: Viện hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Thủy lợi (1990 -1995) và của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (từ 1995- 2008). Các nhiệm vụ chủ yếu trong giai đoạn này là:

Đẩy mạnh các hoạt động điều tra cơ bản chuyên ngành thủy lợi và tích lũy cơ sở dữ liệu trong các lĩnh vực điều tra chua, mặn, sạt lở, biến hình lòng sông, bờ sông và tác động của công trình thủy lợi đến môi trường đất, nước và các hệ canh tác đặc thù ở các vùng sinh thái khác nhau. Thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu dự báo và nghiên cứu ứng dụng phục vụ sự nghiệp phát triển thủy lợi tại các tỉnh, thành phố phía Nam.

Triển khai các mô hình thí nghiệm, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào công tác thủy lợi phục vụ cải tạo đất, đặc biệt là đất chua phèn ở Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên; triển khai dự án quản lý đất chua phèn (dự án MASS) do tổ chức SIDA- Thụy Điển tài trợ…

Giai đoạn này Viện quan tâm tăng cường năng lực cho các phòng thí nghiệm, đổi mới và nâng cấp các trang thiết bị phục vụ nghiên cứu, tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. Thông qua dự án tăng cường năng lực nghiên cứu cho các Viện ngành nước do Đan Mạch tài trợ (dự án DANIDA) và các dự án quốc tế khác, kỹ năng nghiên cứu và tư vấn của Viện và công tác đào tạo nguồn nhân lực của Viện đã được nâng lên một bước quan trọng, đặc biệt là trang bị các công cụ tính toán, phần mềm hiện đại để giải quyết các bài toán thủy lực - môi trường phức tạp ở ĐBSCL và các tỉnh phía Nam.

      + Giai đoạn 2009 đến nay: Viện hoạt động với tư cách là Viện vùng trực thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam. Viện được Bộ giao phó thêm những chức năng, nhiệm vụ mới quan trọng, phục vụ chiến lược phát triển thủy lợi cũng như chiến lược khoa học công nghệ của ngành ở các tỉnh phía Nam, làm nhiệm vụ cầu nối của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam với các địa phương ở các tỉnh phía Nam để giải quyết các vấn đề khoa học, công nghệ. Là một trong những Viện thành viên lớn nhất của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam- cơ quan khoa học công nghệ được xếp hạng đặc biệt, Viện hoạt động với tinh thần và trọng trách mới, nắm bắt nhanh những vấn đề KHCN của địa bàn phía Nam. Hoạt động của Viện giai đoạn này phù hợp xu thế phát triển năng động của khu vực và yêu cầu của nền kinh tế tri thức, phù hợp định hướng chiến lược phát triển thủy lợi của Bộ ở các tỉnh phía Nam.

          Sự phát triển nhanh và bền vững của Viện về lực lượng nghiên cứu và cơ sở vật chất

 Khi mới thành lập Phân Viện chỉ có 15 cán bộ, nhân viên; vừa thực hiện nhiệm vụ Bộ giao, vừa tích cực đào tạo, phát triển nguồn nhân lực. Đến nay lực lượng cơ hữu của Viện có 180 cán bộ nghiên cứu, trong đó có 5GS và PGS, 15 TS, 45 ThS và trên 100 kỹ sư, cử nhân. Viện có nhiều cán bộ đã và đang được đào tạo sau đại học ở nước ngoài.

Về cơ cấu tổ chức, Viện có 3 Phòng chức năng, 11 đơn vị chuyên môn, trong đó có 8 Trung tâm và 3 Phòng nghiên cứu. Viện có cơ sở 1 tại TP.Hồ Chí Minh và cơ sở 2 tại Bình Dương; có 4 Phòng thí nghiệm chuyên ngành: Thủy lực, Vật liệu xây dựng, Địa kỹ thuật, Hóa môi trường và 1 Phòng thí nghiệm trọng điểm Thủy Động lực khu vực phía Nam đang được đầu tư xây dựng. Các phòng thí nghiệm Thủy lực và Thủy động lực của Viện được  đầu tư tương đối đồng bộ và hiện đại, có khả năng nghiên cứu sâu các vấn đề thủy động lực phức tạp phục vụ phát triển thủy lợi ở các tỉnh phía Nam.

           Đẩy mạnh hoạt động đào tạo và hợp tác quốc tế

  Từ năm 1996 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định cho phép Viện là cơ sở đào tạo sau Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã giao nhiệm vụ và chỉ tiêu đào tạo cho Viện hàng năm, đến nay Viện đã tuyển sinh được 17 khóa, đào tạo được 23 Tiến sĩ kỹ thuật. Hiện nay Viện được phép đào tạo Tiến sĩ kỹ thuật cho 4 chuyên ngành. Công tác đào tạo sau đại học của Viện đảm bảo yêu cầu chất lượng, được Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nông nghiệp và PTNT đánh giá tốt. Từ kết quả của công tác đào tạo sau Đại học, Viện đã đào tạo nhiều cán bộ chủ chốt trình độ cao cho Viện, đồng thời đào tạo cán bộ cho nhiều cơ quan Trường, Viện ở phía Nam.

 Trong xu thế hội nhập và hợp tác, từ khi thành lập đến nay Viện luôn quan tâm đến vấn đề hợp tác quốc tế. Đến nay Viện đã có quan hệ hợp tác với hơn 40 Trường, Viện và tổ chức quốc tế, tiêu biểu như Ủy ban Mê Công quốc tế, Cơ quan hợp tác quốc tế JICA (Nhật Bản), Cơ quan hợp tác Phát triển quốc tế SIDA (Thụy Điển), Viện Thủy lợi Đan Mạch (DHI), Trung tâm nghiên cứu Nông nghiệp ACIAR (Úc), Đại học DELFT (Hà Lan), Đại học Nông nghiệp và Kỹ thuật Tokyo, Đại học Tohoku (Nhật), Trung tâm Không gian Đức (DLR) và gần đây là các tổ chức trong khu vực như Đại học Sriwijaya (Indonesia), Cục Tưới tiêu Hoàng gia Thái Lan v.v…

 Bề dày kinh nghiệm 35 năm và sự phát triển về lượng và chất trong các hoạt động khoa học công nghệ

Trải qua 35 năm xây dựng và phát triển, những kết quả chuyên môn mà Viện đạt được luôn gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp phát triển nông nghiệp nông thôn, quản lý khai thác tài nguyên nước phục vụ phát triển kinh tế xã hội, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường ở các tỉnh phía Nam.

Chỉ tính trong khoảng 5 năm gần đây, Viện đã thực hiện 20 nhiệm vụ nghiên cứu cấp Nhà nước, 25 nhiệm vụ nghiên cứu cấp Bộ, 3 dự án hợp tác quốc tế cấp Nhà nước, 50 nhiệm vụ nghiên cứu cấp địa phương, 50 nhiệm vụ nghiên cứu cấp cơ sở, đồng thời tham gia nhiều dự án lớn quan trọng của Bộ như dự án chống ngập TP.Hồ Chí Minh, dự án đê biển từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang…

Những nhiệm vụ nghiên cứu của Viện tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực khoa học thủy lợi trọng tâm của Ngành.

        1- Về thủy nông - cải tạo đất, nghiên cứu môi trường và thủy lợi phục vụ thủy sản:          

        Ngay từ những ngày đầu thành lập, Viện đã tập trung nghiên cứu giải pháp cải tạo đất chua phèn để khai thác có hiệu quả những vùng đất chua phèn Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên. Nghiên cứu cải tạo đất chua phèn ở ĐBSCL bằng biện pháp thủy lợi là một trong những nghiên cứu tiên phong của Viện đã góp phần khai thác tiềm năng và thế mạnh của đồng bằng, đóng góp hiệu quả cho chiến lược an ninh lương thực của Đảng và Nhà nước. Đồng thời Viện cũng có những nghiên cứu song song về cải tạo đất mặn và chế độ nước cho vùng đất ngọt. Gần đây Viện đã nghiên cứu, xây dựng quy trình rửa mặn cải tạo đất, phục hồi vùng đất bị nhiễm mặn do nuôi trồng thủy sản để canh tác lúa cho vùng sản xuất ven biển các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau. Viện đã đề xuất các giải pháp quản lý môi trường bền vững khi chuyển đổi cơ cấu sản xuất vùng ven biển ĐBSCL, các làng nghề nông thôn; giải pháp quản lý môi trường sông Thị Vải. Viện cũng đã đề xuất các công nghệ xử lý chất thải cho các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung ở ĐBSCL; công nghệ xử lý chất thải cho các trang trại nuôi tôm, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Các công nghệ này đã được kiểm chứng tốt và đang từng bước đi vào thực tế.

        Với các số liệu sau nhiều năm quan trắc và nghiên cứu những biến đổi của môi trường tại nhiều vùng sinh thái khác nhau, từ các vùng đất hoang hóa ở miền Trung, các vùng chứa chất độc hóa học trong chiến tranh ở lưu vực Trị An, Dầu Tiếng, những tác động của quá trình phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt là diễn biến chua - mặn ĐBSCL..., Viện đã xây dựng được cơ sở dữ liệu khá phong phú về lĩnh vực biến động môi trường sinh thái trong quá trình khai thác phát triển.

        Viện là một trong những cơ quan đầu tiên đưa ra lý thuyết về bài toán thành phần nguồn nước và sự lan truyền chất ô nhiễm trong hệ thống sông kênh. Với công cụ này Viện đang ứng dụng cho việc nghiên cứu sâu hơn về quản lý tài nguyên nước lưu vực sông Đồng Nai và vùng Bán đảo Cà Mau, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp công trình cụ thể và có căn cứ khoa học vững chắc. Là cơ quan đầu tiên nghiên cứu sâu về hồ sinh thái, đề xuất các giải pháp công nghệ và kỹ thuật xây dựng hồ sinh thái và đã thu được nhiều kinh nghiệm thực tiễn trên nhiều vùng khác nhau. Viện cũng đã thu được nhiều kết quả trong nghiên cứu chế độ kỹ thuật tưới tiết kiệm nước, giải pháp trữ và cấp nước cho các vùng khan hiếm nước và đề xuất các mô hình canh tác hiệu quả cho nhiều tiểu vùng ở các địa phương thuộc vùng Duyên hải miền Trung, Tây nguyên, Đông Nam bộ và ĐBSCL. Viện cũng đã nghiên cứu sâu về các giải pháp phòng chống khô hạn, nguy cơ sa mạc hóa, chống thất thoát nước trên hệ thống kênh tưới ở các tỉnh Duyên hải miền Trung.

          Là cơ quan nghiên cứu có hệ thống về xâm nhập mặn ĐBSCL từ năm 1993, trong đó từ năm 2006 đến nay được Bộ giao nhiệm vụ giám sát thường xuyên diễn biến xâm nhập mặn vùng ven biển ĐBSCL, Viện đã thực hiện công tác dự báo xâm nhập mặn trên các hệ thống sông rạch chính vùng ĐBSCL trong các tháng mùa khô hàng năm bằng các công cụ tính toán mới, từ đó báo cáo kịp thời về Bộ, Tổng cục Thủy lợi phục vụ chỉ đạo sản xuất và thông tin kịp thời cho các địa phương trong địa bàn chủ động trong việc lấy nước sản xuất và sinh hoạt, được Bộ và các địa phương đánh giá tốt.

        Ý thức được tầm quan trọng của các giải pháp khoa học công nghệ thủy lợi phục vụ phát triển thủy sản, nhiều năm qua Viện đã tập trung nhiều công sức cho nhiệm vụ này. Thông qua nhiều đề tài, dự án, công trình tư vấn về các hệ thống thủy lợi phục vụ thủy sản ĐBSCL Viện đã tổng hợp đề xuất những giải pháp thủy lợi trọng tâm để phát triển thủy sản ĐBSCL và kiến nghị những giải pháp cần thiết để xây dựng “cánh đồng lớn” trong hệ thống nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL, đồng thời năm 2013 Viện đã triển khai dự án thực tế về đầu tư xây dựng hệ thống nuôi trồng thủy sản công nghệ cao ở Sóc Trăng.

         2- Về chỉnh trị sông, phòng chống thiên tai và bảo vệ bờ:

Những kết quả nghiên cứu lâu năm và có hệ thống của Viện từ khi thành lập đến nay về lĩnh vực quan trọng này đã cung cấp cơ sở khoa học, giải pháp kỹ thuật cho các công trình chỉnh trị sông, bảo vệ bờ cho những khu vực trọng điểm trên hệ thống sông Cửu Long, sông Sài Gòn- Đồng Nai. Các công trình tiêu biểu của Viện trong lĩnh vực này là: nghiên cứu biến đổi lòng dẫn sông Sài Gòn - Đồng Nai; kè bảo vệ bờ Vĩnh Long- Sa Đéc; kè bảo vệ bờ sông Long Toàn- Trà Vinh, kè biển Gành Hào - Bạc Liêu; kè sông Cổ Chiên- Vĩnh Long; đã dự báo sạt lở bờ sông Cửu Long, sông Sài Gòn khu vực Thanh Đa, Mương Chuối- Nhà Bè…, quy hoạch mép bờ cao sông Sài Gòn,… là những công trình có ý nghĩa thực tiễn, góp phần hạn chế những thiệt hại về người và tài sản do sạt lở bờ sông, bờ biển gây ra.

       Trong lĩnh vực phòng chống thiên tai, chỉnh trị sông và bảo vệ bờ, Viện là một trong những đơn vị sớm nghiên cứu về ảnh hưởng hoạt động khai thác cát đến thay đổi lòng dẫn trên sông Cửu Long. Bằng những công cụ tính toán mới, Viện đã công bố kết quả tính toán phân bố bùn cát và các phương án khai thác cát ở 4 vùng trọng điểm sông Cửu Long và kiến nghị điều chỉnh quy hoạch khai thác cát đảm bảo bền vững về môi trường.

3- Về lĩnh vực xây dựng công trình thủy lợi:

Các tỉnh phía Nam là địa bàn có nền đất yếu lại chịu tác động bởi các yếu tố không thuận lợi khác như thủy triều, ngập lũ và môi trường nước có độ xâm thực cao do ảnh hưởng của mặn và phèn. Với nền móng và đất đắp đập rất đặc trưng này, Viện đã có những nghiên cứu thành công và đóng góp có hiệu quả cho sản xuất, đưa ra các quy trình, kỹ thuật đắp đập, bờ bao, nền móng công trình... với các loại đất tại chỗ phục vụ cho hàng loạt công trình ở miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam bộ, ĐBSCL và đang được tiếp tục nghiên cứu để áp dụng trong các giải pháp xử lý bờ bao, đê biển ở ĐBSCL.

Viện đã đề xuất cơ sở khoa học sdụng vật liệu tại chỗ có tính đặc thù (đất lẫn dăm sạn, đất có tính trương nở) để làm vật liệu chống thấm trong đất đắp. Ứng dụng công nghệ màng chống thấm, thảm sét chống thấm, thay tường chống thấm. Các giải pháp công nghệ này đã được ứng dụng cho các hồ chứa nước Sông Biêu (Ninh Thuận); Sông Sắt (Ninh Thuận); Sông Ray (Bà Rịa – Vũng Tàu); Dầu Tiếng  (Tây Ninh)… Từ những nghiên cứu thực tiễn, Viện đã đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đất đắp khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên. Đã xây dựng qui trình đắp đập đảm bảo ổn định cho nhiều công trình, như thủy điện Bắc Bình, Bình Thuận; hồ chứa nước Iam’lah, tỉnh Gia Lai; công trình thủy điện Srêpók 3, Đắk Lắk…được các cơ quan quản lý đầu tư xây dựng đánh giá cao và đưa vào ứng dụng. Viện đã nghiên cứu các giải pháp công nghệ phục vụ xây dựng hệ thống đê biển, đê cửa sông ngăn mặn và hệ thống đê bao bờ bao vùng lũ ĐBSCL thông qua các giải pháp thiết kế, vật liệu, xử lý nền móng, biện pháp thi công phù hợp với đặc điểm các tỉnh phía Nam. Về vật liệu xây dựng, Viện đã nghiên cứu ứng dụng thành công phụ gia diatomit chống ăn mòn bê-tông vùng ven biển, nghiên cứu thành phần bê tông làm việc trong môi  trường chua mặn ở ĐBSCL.

  Thông qua kết quả thí nghiệm mô hình vật lý cho hơn 70 công trình cống vùng triều phía Nam, Viện đã đề xuất áp dụng giải pháp tiêu năng phòng xói vào hầu hết các cống vùng triều trên nền đất yếu ở ĐBSCL. Kết quả thực nghiệm nhiều công trình ở ĐBSCL cho thấy kết cấu tiêu năng phòng xói do Viện đề xuất có nhiều ưu điểm, làm việc an toàn và ổn định, được Bộ Nông nghiệp và PTNT đánh giá cao. Viện cũng đã nghiên cứu nâng cấp các cống có cửa van tự động thủy lực vùng triều; nghiên cứu các giải pháp an toàn hồ chứa, đề xuất các giải pháp tăng khả năng tháo lũ và khả năng tích nước cho hồ chứa và hiện nay đang triển khai nghiên cứu giải pháp tràn tự động có khả năng tháo lưu lượng lớn.

Viện cũng đã xây dựng thành công quy trình quản lý vận hành hệ thống thủy lợi Nam Măng Thít (Trà Vinh) có ứng dụng công nghệ quản lý quan trắc tự động.

Để phục vụ cho các giải pháp thủy công phục vụ xây dựng công trình thủy lợi, Viện đã triển khai có hệ thống hàng loạt thí nghiệm mô hình vật lý cho các công trình thủy lợi, tiêu biểu là các cống vùng triều thuộc các dự án Quản Lộ- Phụng Hiệp, Nam Măng Thít, Bắc Bến Tre…, và các công trình đặc thù khác ở các khu vực phía Nam như tràn phím piano Văn Phong (Bình Định), tràn xi phông Hồ Xuân Hương (Lâm Đồng), các cống ngăn triều lớn như Thủ Bộ, Mương Chuối (thuộc Dự án chống ngập TPHCM)… Hàng loạt công trình thủy điện lớn ở miền Trung, Đông Nam bộ và Tây nguyên đã được Viện nghiên cứu mô hình thủy lực và kết quả đã được áp dụng vào thực tiễn sản xuất, tiêu biểu là các công trình thủy điện Thác Mơ, Srok Phu Miêng (Bình Phước), A Vương (Quảng Nam), Buôn Kuốp, Buôn Tua Srah (Đắc Lắc), Phước Hòa (Bình Phước), Đồng Nai 3,4; Sông Bung 2 (Quảng Nam)…

Hiện nay Viện đang xây dựng Phòng thí nghiệm Thủy Động lực khu vực phía Nam tại Bình Dương, có khả năng nghiên cứu các mô hình vật lý sóng triều để giải quyết các bài toán thủy động lực sông biển và hệ sống kênh lớn cho các tỉnh phía Nam.

4- Về lĩnh vực vật liệu mới, công nghệ mới trong xây dựng thủy lợi:

 Viện là một trong những cơ quan đầu tiên nghiên cứu ứng dụng thành công vải địa kỹ thuật cho các công trình thủy lợi, giao thông, xây dựng ở phía Nam, nghiên cứu sử dụng cọc bản bê-tông dự ứng lực trong xây dựng thủy lợi ở ĐBSCL và áp dụng đầu tiên ở công trình kè Gành Hào. Viện đã đề xuất kết cấu cống lắp ghép bằng cừ bê-tông cốt thép dự ứng lực. Giải pháp công  nghệ này đã đoạt được nhiều giải thưởng của Bộ, Thành phố và Nhà nước và đã được cấp bằng độc quyền sáng chế. Hiện nay Viện đang triển khai dự án sản xuất thử nghiệm kết cấu cống lắp ghép, trong đó đề xuất thêm các sơ đồ kết cấu phiên bản mới.

Viện là đơn vị đầu tiên trong cả nước ứng dụng thành công đập cao su năm 1997 tại Ngọc Khô (Quảng Nam), năm 2000 tại Nam Thạch Hãn (Quảng Trị) với công trình có chiều dài 140m,  công trình đập cao su lớn nhất Việt Nam này được nâng cấp mở rộng năng lực năm 2008. Sau đó hàng loạt các đập cao su khác được các chuyên gia của Viện thiết kế, thi công ở các tỉnh miền Trung, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên bằng vật liệu chế tạo trong nước, thay thế hoàn toàn vật liệu và chuyên gia nước ngoài.

Viện đã nghiên cứu thành công kết cấu đập di động nhằm thay thế đập thời vụ ngăn mặn cho các tỉnh ĐBSCL. Đây là công nghệ mới bằng vật liệu gọn nhẹ, dễ di chuyển, quản lý vận hành đơn giản, giá thành hợp lý…đã được áp dụng thử nghiệm tại Kiên Giang, được thực tế sản xuất chấp nhận, mở ra triển vọng áp dụng rộng rãi ở các địa phương vùng ĐBSCL.

 Trong lĩnh vực nghiên cứu thiết lập mạng quản lý điều khiển, quan trắc tự động các hệ thống công trình thủy lợi, từ năm 2002 đến nay Viện đã áp dụng thành công cho các hệ thống thủy lợi: Gò Công (Tiền Giang), Nam Măng Thít (Trà Vinh), Củ Chi (TP. HCM), Tân Hưng (Tây Ninh), năm 2013 đang xây dựng một hệ thống quan trắc tương tự phục vụ dự án biến đổi khí hậu tỉnh Bình Định. Giải pháp công nghệ này mở ra triển vọng tự động hóa mạng lưới kiểm soát quản lý vận hành các công trình thủy lợi theo công nghệ hiện đại tại Việt Nam.

        5- Về lĩnh vực ứng dụng mô hình toán, công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý (GIS)

Viện đã nghiên cứu có hệ thống và phát triển sơ đồ toán lũ để giải quyết các bài toán thủy lực và môi trường, đưa ra cơ sở khoa học cho việc quy hoạch lũ ĐBSCL, phát triển mô hình toán lũ và ứng dụng hiệu quả các phần mềm họ MIKE để nghiên cứu các bài toán lũ, chế độ thủy lực trong các lĩnh vực liên quan. Hiện nay Viện đang thực hiện nhiệm vụ Bộ giao về thực hiện bài toán dự báo lũ ĐBSCL trong bối cảnh khai thác thượng lưu.

              Là một trong những đơn vị đầu tiên phát triển chương trình ứng dụng để nghiên cứu nguồn nước trong điều kiện thủy lực, thủy văn phức tạp, Viện đã xây dựng và phát triển lý thuyết lan truyền nguồn nước trong hệ thống sông kênh với ứng dụng quan trọng là giúp xác định các chỉ tiêu chất lượng nước cả về định tính và định lượng, giúp hiểu rõ về cơ chế vận động khối nước, lan truyền phèn, mặn, lan truyền bệnh thủy sản… trong các hệ thống.  

          Viện đã ứng dụng các mô hình toán họ MIKE phục vụ tính toán, mô phỏng dòng chảy lũ, kiệt để dự báo xâm nhập mặn vùng ĐBSCL; ứng dụng các mô hình toán và phần mềm chuyên dụng để tính toán cân bằng nước phục vụ quy hoạch, sử dụng tổng hợp, quản lý và phát triển tài nguyên nước…và ứng dụng ảnh vệ tinh, công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý GIS trong nghiên cứu diễn biến đường bờ, hình thái, thảm thực vật, hiện trạng cơ sở hạ tầng…Hiện nay Viện đang nghiên cứu mô hình sóng triều biển Đông, phục vụ xây dựng các hệ thống thủy lợi ven biển và các công trình bảo vệ bờ biển ở phía Nam.

        Có thể nói với việc được trang bị các công cụ tính toán, nghiên cứu hiện đại cùng với đội ngũ chuyên gia lành nghề, hiện nay Viện là một trong những đơn vị khoa học mạnh của Bộ trong lĩnh vực mô hình toán phục vụ các bài toán thủy động lực sông biển phức tạp ở các tỉnh phía Nam.

        6. Nghiên cứu những vấn đề khoa học có tính thời sự mới phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế xã hội.

        Cùng với những nghiên cứu phục vụ phát triển kinh tế xã hội, nông nghiệp và nông thôn các tỉnh phía Nam, thời gian qua Viện được Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Khoa học và Công nghệ giao thực hiện thêm một số nhiệm vụ mang tính thời sự, có hàm lượng khoa học cao và phức tạp như: nghiên cứu những vấn đề phát triển thủy lợi ĐBSCL nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, có xét đến bối cảnh khai thác thượng lưu của các quốc gia trong lưu vực Mê Công. Viện đã đi sâu nghiên cứu các kịch bản BĐKH-NBD, sự thay đổi dòng chảy, lũ và mặn, vấn đề ngập do triều trong các kịch bản nước biển dâng ở ĐBSCL, qua đó kiến nghị những giải pháp cụ thể nhằm thích ứng trong việc khai thác và phát triển thủy lợi ĐBSCL. Kết quả này đã được Vụ Kinh tế Văn phòng TW Đảng, Ban chỉ đạo Tây Nam bộ và Bộ Nông nghiệp & PTNT đánh giá cao.

        Viện là đơn vị được Bộ giao làm đầu mối thực hiện dự án quy hoạch thủy lợi chống ngập TP.HCM đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Quyết định 1547/TTg). Ngoài ra Viện cũng triển khai các đề tài, dự án nghiên cứu chống ngập cho các đô thị lớn như Cần Thơ, Cà Mau. Viện là đơn vị tham gia chủ yếu Dự án nâng cấp đê biển từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Quyết định 667) và hiện nay Viện đang triển khai thực hiện nhiều công trình nâng cấp đê biển ở các tỉnh ĐBSCL.

        Viện cũng được Bộ giao nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn, các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường khi xây dựng các tuyến đê biển Vũng Tàu- Gò Công, đê biển Rạch Giá- Kiên Giang…Các kết quả nghiên cứu này sẽ tư vấn cho Bộ ra những quyết sách cụ thể.

        Hiện nay, Bộ đang triển khai đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững (Quyết định 899 của Thủ tướng Chính phủ). Viện đã kịp thời đăng ký các chương trình hành động cụ thể để tham gia đề án quan trọng này.

          Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam trước những vận hội và thách thức mới

Nhìn lại những thành quả trong hoạt động nghiên cứu khoa học, phục vụ sản xuất và đào tạo nguồn nhân lực trong suốt 35 năm qua, tập thể cán bộ, viên chức, người lao động của Viện đã rút ra cho mình những kinh nghiệm quý, đó là: (1) Luôn bám sát nhiệm vụ chính trị qua mỗi giai đoạn, xác định được mục tiêu và hướng đi đúng, tiếp cận với những vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn sản xuất và đời sống; (2) Quan tâm đúng mức đến việc quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học, giữ vững sự đồng tâm, đoàn kết nội bộ vì sự nghiệp chung; (3) Phát triển năng lực nghiên cứu của Viện đủ sức giải quyết những vấn đề khoa học- công nghệ ở trình độ cao; (4) Tranh thủ sự chỉ đạo và ủng hộ của các cơ quan quản lý Nhà nước, sự đồng tình ủng hộ của các địa phương, sự phối hợp của các Viện, Trường; (5) Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế để có điều kiện tiếp cận các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại trên thế giới.

Những kết quả mà Viện chúng tôi đã làm được trong 35 năm qua tuy còn khiêm tốn, nhưng rất đáng tự hào vì hầu hết kết quả nghiên cứu của Viện đều gắn bó với thực tiễn, giải quyết những vấn đề do thực tiễn cuộc sống đặt ra và đã có những đóng góp thiết thực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ của các tỉnh phía Nam, đặc biệt là phát triển nông nghiệp nông thôn vùng ĐBSCL, khu vực năng động và quan trọng bậc nhất đối với kinh tế xã hội cả nước.

Với những cố gắng của mình, Viện chúng tôi đã nhận được sự quan tâm động viên của Đảng và Nhà nước bằng nhiều phần thưởng cao quý: Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (1985, 2008), Huân chương Lao động hạng Ba (1990), Huân chương Lao động hạng Nhất (1997), cờ luân lưu của Chính phủ (1998, 2008); Huân chương Độc lập hạng Ba (2003); Huân chương Độc lập hạng Nhì (2008) và nhiều phần thưởng khác cho các tập thể và cá nhân của Viện.

Toàn thể cán bộ, viên chức của Viện bày tỏ lòng biết ơn về sự chỉ đạo và giúp đỡ quý báu của lãnh đạo Bộ Thủy lợi trước đây, Bộ Nông nghiệp và PTNT ngày nay, các Vụ và cơ quan quản lý chức năng của Bộ và các Bộ ngành Trung ương khác, các Viện và Trường liên quan.

Sự trưởng thành của Viện hôm nay không tách rời sự đóng góp của lãnh đạo và cán bộ viên chức Viện Khoa học Thủy lợi đã đào tạo và san sẻ cho Viện nhiều cán bộ đầu đàn ngay từ buổi ban đầu. Viện luôn luôn ghi nhận và đánh giá cao công lao các cố PGS Đào Khương – nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi, GS. Nguyễn Thanh Ngà - nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi, nguyên Phân Viện trưởng Phân Viện Nghiên cứu Khoa học Thủy lợi miền Nam, cố PGS.TS Cù Xuân Đồng, nguyên quyền Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học Thủy lợi Nam Bộ, đã có công xây dựng và phát triển Viện trong những chặng đường đầu tiên đầy khó khăn gian khổ. Một số đồng chí lãnh đạo lão thành trên nay đã qua đời, nhưng những đóng góp của các đồng chí đối với quá trình xây dựng và trưởng thành của Viện, các thế hệ cán bộ viên chức của Viện không bao giờ quên.

Sự trưởng thành của Viện ngày nay cũng gắn liền với công sức của Anh hùng lao động - GS.TSKH Nguyễn Ân Niên, nguyên Viện trưởng từ 1992- 1998 và GS.TS. Lê Sâm, nguyên Viện trưởng từ 1999- 2007. Hiện nay hai GS vẫn còn những đóng góp tiếp tục cho Viện trong công tác chuyên môn trình độ cao và đào tạo sau đại học.

Sự phát triển năng động của Viện trong giai đoạn hơn 5 năm qua cũng gắn liền với những đóng góp quan trọng của PGS.TS. Lê Mạnh Hùng, nguyên Viện trưởng từ 2007-2009 và PGS.TS. Tăng Đức Thắng, nguyên Viện trưởng từ 2009-2013. Hiện nay hai đồng chí đã được Bộ giao những trọng trách mới: lãnh đạo Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam,  hai đồng chí vẫn tiếp tục tham gia chỉ đạo trực tiếp Viện những vấn đề chuyên môn sâu, liên quan tới chiến lược phát triển khoa học công nghệ thủy lợi giai đoạn mới và công tác đào tạo sau đại học của Viện.

Trong giai đoạn mới, tập thể cán bộ, viên chức của Viện luôn luôn vững tin rằng với những kinh nghiệm quý báu tích lũy được trong 35 năm xây dựng và phát triển Viện, sự ủng hộ của các cơ quan quản lý Trung ương và địa phương, tập thể cán bộ viên chức, người lao động của Viện sẽ hết sức nỗ lực phấn đấu, tiếp tục nâng cao hơn nữa trình độ và chất lượng nghiên cứu khoa học với tinh thần trách nhiệm cao để hoàn thành nhiệm vụ.

TP. Hồ chí Minh, 19/8/2013



 

 

 

 Lên đầu trang     In trang này

Cơ quan chủ quản: Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam
Giấy phép số: 166/GP-BC ngày 02/5/2007 của Cục Báo chí- Bộ VHTT
Chịu trách nhiệm chính: TS Tô Văn Thanh - Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam

Web Design by thietkeviet.com - © Copyright 2005-2014 by SIWRR®. All rights reserved.