30 NĂM TRƯỞNG THÀNH VÀ PHÁT TRIỂ
VIỆN KHOA HỌC THUỶ LỢI MIỀN NAM
Southern Institute of Water Resources Research (SIWRR)

Viện
Khoa học Thủy lợi miền Nam là cơ quan sự nghiệp khoa học công nghệ và đào
tạo sau đại học về thủy lợi ở phía Nam, trực thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Việt
Nam.
- Trụ sở chính : 2A Nguyễn Biểu, quận 5, TP.Hồ chí Minh
- Cơ sở 2 : Thuận Giao, Thuận An, Bình Dương
- Điện thoại : (08) 39238320- 38366148
- Fax : (08) 9235028
- E-mail : vkhtlmn@hcm.vnn.vn
- Website : www.siwrr.org.vn
- Quyết định thành lập : số 864 QĐ/TC ngày 19/8/1978 của Bộ trưởng Bộ Thủy lợi
(cũ)
- Quy
định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức theo Quyết định số 2862/QĐ-BNN-TCCB ngày 18/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn.
- Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ số A-106 ngày
12/1/2006 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.
VIỆN KHOA HỌC THỦY LỢI MIỀN NAM
- 30 NĂM TRƯỞNG THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN (19/8/1978 - 19/8/2008)
Sau khi miền Nam được giải phóng,
Viện Nghiên cứu Khoa học Thủy lợi (Bộ Thủy lợi) đã cử một tổ tiền trạm vào miền
Nam để tìm hiểu các vấn đề khoa học thủy lợi ở Đồng bằng sông Cửu Long như ngập
lụt, đất chua phèn, đất ngập nước, truyền triều và xâm nhập mặn v.v…Trên cơ sở
các nghiên cứu thăm dò, từ năm 1978 Bộ Thủy lợi đã thành lập Phân Viện Nghiên
cứu Khoa học Thủy lợi miền Nam trực thuộc Viện Nghiên cứu Khoa học Thủy lợi, sau
đó phát triển thành Viện Nghiên cứu Khoa học Thủy lợi Nam bộ trực thuộc Bộ
(1990), và chuyển thành Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam từ năm 1997 đến nay. Năm
1996, khi Nhà nước sắp xếp lại các cơ quan nghiên cứu triển khai khoa học và
công nghệ, Viện được công nhận là một trong 42 Viện nghiên cứu khoa học trong cả
nước.
Từ 4/2008 Viện trực thuộc Viện
Khoa học Thủy lợi Việt Nam theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Trong suốt 30 năm xây dựng và
trưởng thành, hoạt động của Viện luôn luôn đồng hành với sự nghiệp phát triển
nông nghiệp- nông thôn, phòng chống thiên tai, cải tạo đất, cấp thoát nước và
bảo vệ môi trường ở các tỉnh phía Nam.
I. Các giai đoạn
phát triển của Viện
Từ khi thành lập đến nay, Viện đã
trải qua 3 giai đoạn phát triển chủ yếu:
+ Giai đoạn 1978- 1982: Phân Viện
mới được thành lập, nhiệm vụ chủ yếu của Phân Viện trong giai đoạn này là: Xây
dựng và củng cố lực lượng, tiến hành một số thí nghiệm thủy nông mang tính chất
thăm dò, định hướng trong các lĩnh vực: nhu cầu nước cho lúa và cây trồng cạn,
cải tạo đất chua phèn bằng biện pháp thủy lợi...
+ Giai đoạn 1983- 1990: Phân Viện
củng cố tổ chức và năng lực nghiên cứu chuẩn bị chuyển thành Viện trực thuộc Bộ.
Các nhiệm vụ chủ yếu trong giai đoạn này: Tham gia nghiên cứu và chủ trì một số
đề tài nghiên cứu trong kế hoạch 1981- 1985 và 1986-1990. Tham gia công tác
nghiên cứu và thí nghiệm ở một số công trình trọng điểm của Bộ Thủy lợi (cũ) ở
các tỉnh phía Nam như: Dầu Tiếng, Trị An, Trị Yên, Vàm Đồn...Phát triển mạng
lưới trạm nghiên cứu thủy nông các vùng đất đặc thù của Nam bộ như Mỹ Lâm, Tân
Thạnh, Láng Biển, Tân Mỹ Chánh, Thủ Đức- TP.HCM v.v...
+ Giai đoạn 1991 đến nay: Viện
hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Thủy lợi (từ 1990 -1995) và của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (từ 1995 đến nay). Các nhiệm vụ chủ yếu
trong giai đoạn này:
- Triển khai các nhiệm vụ nghiên
cứu cơ bản, nghiên cứu dự báo và nghiên cứu ứng dụng phục vụ sự nghiệp phát
triển thủy lợi tại phía Nam.
- Triển khai các thí nghiệm, áp
dụng các tiến bộ kỹ thuật vào công tác thủy lợi phục vụ công tác cải tạo đất,
đặc biệt là đất chua phèn ở Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên; nghiên cứu
quản lý tài nguyên nước, thiết kế thi công và quản lý khai thác công trình thủy
lợi, phòng chống lũ lụt, giảm nhẹ thiên tai v.v...
- Từ 1993 Viện đẩy mạnh các hoạt
động điều tra cơ bản chuyên ngành thủy lợi và tích lũy cơ sở dữ liệu trong các
lĩnh vực điều tra chua, mặn, sạt lở biến hình lòng sông bờ sông và tác động của
công trình thủy lợi đến môi trường đất, nước và các hệ canh tác đặc thù ở các
vùng sinh thái phía Nam.
- Từ 1996 Viện đẩy mạnh các nghiên
cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai thuộc các lĩnh vực thủy nông- cải tạo đất,
môi trường, thủy công - thủy lực, hệ thống sông ngòi, đê kè, phòng chống thiên
tai... ở các tỉnh phía Nam. Đồng thời đẩy mạnh các hoạt động ứng dụng và chuyển
giao công nghệ, tư vấn, dịch vụ kỹ thuật, sản xuất thử thuộc lĩnh vực thủy lợi,
xây dựng, triển khai nghiên cứu và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và
phát triển tài nguyên nước.
- Từ 1996 Thủ tướng Chính phủ ban
hành Quyết định cho phép Viện là cơ sở đào tạo sau Đại học, Bộ Giáo dục và Đào
tạo đã giao nhiệm vụ và chỉ tiêu đào tạo sau đại học cho Viện hàng năm.
- Tiếp tục củng cố tổ chức, tăng
cường năng lực nghiên cứu cho các phòng thí nghiệm, nâng cấp cơ sở Viện, đổi mới
và hiện đại hoá các thiết bị nghiên cứu đo đạc, tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác
quốc tế. Thông qua dự án tăng cường năng lực nghiên cứu do Danida (Đan Mạch) tài
trợ từ năm 2001 và nhiều dự án quốc tế khác, kỹ năng nghiên cứu và tư vấn của
Viện đã được tăng cường, đặc biệt là các công cụ tính toán hiện đại.
Đến nay, Viện có 2 Phòng chức năng,
10 đơn vị chuyên môn, trong đó có 5 Trung tâm và 5 Phòng nghiên cứu. Viện có cơ
sở 1 tại TP.Hồ Chí Minh và cơ sở 2 tại Bình Dương. Viện có 4 Phòng thí nghiệm
chuyên ngành: Thủy lực, Vật liệu xây dựng, Địa kỹ thuật, Hóa môi trường và 1
Phòng thí nghiệm trọng điểm Thủy Động lực khu vực phía Nam.
Về đào tạo sau đại học, đến nay
Viện đã tuyển sinh được 11 khóa và đào tạo được 12 Tiến sĩ kỹ thuật.
Về hợp tác quốc tế, hiện nay Viện
có mối quan hệ hợp tác với hơn 40 Trường, Viện và tổ chức quốc tế, trong đó có
các tổ chức quốc tế lớn như Ủy ban MêCông quốc tế, JICA (Nhật Bản), SIDA (Thụy
Điển), DANIDA (Đan Mạch), ACIAR (Úc), DELFT (Hà Lan), Hồ Hải (Trung Quốc)…
II/ Những thành tựu chủ yếu
1- Về thủy nông - cải tạo đất và nghiên cứu môi trường
Nghiên cứu cải tạo đất chua phèn
và nhu cầu nước, cân bằng nước mặt ruộng là các hướng nghiên cứu có hệ thống của
Viện từ 1978 đến nay. Đất chua phèn ở ĐBSCL chiếm đến 40% diện tích tự nhiên
toàn đồng bằng và việc nghiên cứu giải pháp cải tạo đất chua phèn bằng biện pháp
thủy lợi kết hợp với các giải pháp kỹ thuật nông nghiệp khác để khai thác có
hiệu quả đất chua phèn là yêu cầu hết sức cấp bách đã được Viện đã nghiên cứu
thành công thông qua Dự án quản lý đất chua phèn Đồng Tháp Mười (dự án MASS,
1989- 1995).
Nghiên cứu nhu cầu nước và cân
bằng nước mặt ruộng là nội dung được Viện quan tâm nghiên cứu. Các số liệu cân
bằng nước được Viện thực hiện trong nhiều năm có chú ý đến vấn đề đa dạng hóa
cây trồng và nền nông nghiệp sinh thái bền vững có tính đến khả năng có hạn của
nguồn nước.
Vấn đề diễn biến môi trường trong
các vùng được đầu tư các công trình thủy lợi, các dự án đầu tư phát triển; giải
pháp cải tạo và sử dụng các vùng đất hoang hóa ở miền Trung bền vững về môi
trường; diễn biến môi trường của toàn đồng bằng do các tác động của phát triển
kinh tế - xã hội; ảnh hưởng của chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh
ở lưu vực Trị An, Dầu Tiếng v.v... đã được Viện triển khai nghiên cứu. Đặc biệt
là diễn biến chua - mặn Đồng bằng sông Cửu Long đã được Viện điều tra đánh giá
có hệ thống hơn 15 năm nay và đã xây dựng cơ sở dữ liệu về lĩnh vực này. Trong
các tháng mùa khô trong nhiều năm gần đây Viện đã kịp thời phát các dự báo về
xâm nhập mặn trên các dòng chính và báo cáo với các cơ quan quản lý ở Trung ương
và địa phương để chỉ đạo sản xuất, những thông tin này cũng được Viện thông báo
trên mạng internet.
Viện là một trong những cơ quan
đầu tiên đưa ra lý thuyết về bài toán thành phần nguồn nước và lan truyền chất ô
nhiễm và hiện nay công cụ nầy đang được Viện ứng dụng cho việc nghiên cứu sâu về
quản lý tài nguyên nước lưu vực sông Đồng Nai và vùng Bán đảo Cà Mâu.
Viện là một trong những cơ quan đầu tiên nghiên cứu sâu về hồ sinh thái, đề xuất
các giải pháp công nghệ và kỹ thuật xây dựng hồ sinh thái có cơ sở khoa học và
thực tiễn trên các vùng sinh thái khác nhau ở ĐBSCL và miền Trung.
Vấn đề cấp nước cho vùng cao, vùng
sâu và kỹ thuật tưới hiện đại tiết kiệm nước cho các vùng khan hiếm nước; các mô
hình canh tác hiệu quả cho các vùng sinh thái ở miền Trung đã được Viện nghiên
cứu, áp dụng cho nhiều địa phương ở Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai...và
một số tỉnh ở Bắc Trung bộ như Quảng Trị, Nghệ An.
Viện cũng đã nghiên cứu kỹ lưỡng
về các giải pháp phòng chống khô hạn, thiếu nước, nguy cơ sa mạc hóa ở các tỉnh
duyên hải Nam Trung bộ.
2- Về mô hình toán lũ, phòng chống thiên tai và bảo vệ bờ
Viện đã nghiên cứu có hệ thống về
bài toán lũ và phát triển sơ đồ tính lũ để giải quyết các bài toán thủy lực và
môi trường. Viện là một trong những đơn vị của Bộ đi đầu trong việc phát triển
chương trình ứng dụng cho nghiên cứu nguồn nước trong điều kiện thủy lực thủy
văn phức tạp. Viện cũng là một trong những đơn vị đầu tiên đưa ra cơ sở khoa học
cho việc quy hoạch lũ Đồng bằng sông Cửu Long. Viện đã phát triển mô hình toán
lũ KOD-WQPS (sản phẩm của Viện) và ứng dụng hiệu quả các phần mềm họ MIKE (Đan
Mạch) để nghiên cứu các bài toán thủy lực trong các lĩnh vực liên quan.
Về diễn biến lòng dẫn sông và bờ
biển, Viện đã nghiên cứu các cơ sở dữ liệu về thủy văn, hình thái và địa chất,
kiến tạo, quy luật diễn biến lòng sông của vùng vừa bị tác động của nguồn, vừa
bị tác động mạnh mẽ của triều, trên cơ sở mối tương quan chặt chẽ của điều kiện
địa chất kiến tạo.
Các công trình tiêu biểu của Viện
trong lĩnh vực này: nghiên cứu biến đổi lòng dẫn sông Sài Gòn - Đồng Nai; kè
Vĩnh Long- Sa Đéc; kè Long Toàn- Trà Vinh, Gành Hào- Bạc Liêu; dự báo sạt lở
sông Cửu Long, sông Sài Gòn khu vực Thanh Đa, Mương Chuối- Nhà Bè…
Các nghiên cứu của Viện về biến
hình lòng sông, dự báo hành lang an toàn bờ sông, biện pháp ổn định bờ sông, bờ
biển tạm thời và lâu dài... là tài liệu có ý nghĩa thực tiễn thiết thực giúp các
địa phương ở các tỉnh phía Nam hạn chế những thiệt hại về người và tài sản do
sạt lở bờ sông, bờ biển.
3- Về lĩnh vực xây dựng công trình thủy lợi
Các tỉnh phía Nam là địa bàn có
nhiều vấn đề để phát triển khoa học thủy lợi: nền đất yếu, ảnh hưởng lớn và phức
tạp của thủy triều, ngập lũ và môi trường nước có độ xâm thực lớn do ảnh hưởng
của mặn và phèn.
Về nền móng và đất đắp đập rất đặc
trưng ở các tỉnh phía Nam, Viện đã có những nghiên cứu thành công và đóng góp có
hiệu quả cho sản xuất. Đó là đưa ra các quy trình, kỹ thuật đắp đập, bờ bao, nền
móng công trình... với các loại đất sườn tích, tàn tích, bazan, phù sa pha bùn
phục vụ cho hàng loạt công trình ở miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam bộ, ĐBSCL.
Công nghệ thi công đập đất có tính co ngót, trương nở lớn trong điều kiện miền
Trung và Tây Nguyên do Viện nghiên cứu đã thành công và được áp dụng có hiệu quả
cho nhiều công trình và hiện nay đang được nghiên cứu áp dụng trong các giải
pháp xử lý bờ bao, đê biển ở ĐBSCL.
Về thủy công Viện đã phát triển
nghiên cứu quy trình lấp sông vùng triều. Bằng những thí nghiệm mô hình vật lý
cho hơn 60 công trình cống vùng triều phía Nam, Viện đã nghiên cứu thành công và
đề xuất áp dụng vào hầu hết các cống vùng triều trên nền mềm yếu ở ĐBSCL hình
thức tiêu năng phòng xói mới thích hợp và đề xuất biện pháp để mở được hoàn toàn
các cửa van tự động vùng triều, tiêu biểu là các cống thuộc dự án Quản Lộ- Phụng
Hiệp, Nam Măng Thít. Hàng loạt công trình thủy điện lớn ở miền Trung và Tây
nguyên đã được Viện nghiên cứu mô hình thủy lực và kết quả nghiên cứu thí nghiệm
đã được áp dụng vào thực tiễn sản xuất, tiêu biểu là các công trình thủy điện A
Vương, Srok Phu Miêng, Buôn Tua Srah, Phước Hòa… Viện cũng đã nghiên cứu thành
công các giải pháp khoa học công nghệ phục vụ xây dựng hệ thống đê biển và đê
cửa sông ngăn mặn Nam bộ, qua đó đã đề xuất các giải pháp vật liệu, xử lý nền
móng công nghệ thi công phù hợp đặc điểm các tỉnh phía Nam.
Song song với việc điều tra quá
trình thoái hóa bêtông công trình thủy lợi trong môi trường chua mặn, Viện đã
nghiên cứu ứng dụng thành công phụ gia diatomit chống ăn mòn bêtông vùng ven
biển, đã được sử dụng rộng rãi ở hàng loạt công trình bêtông ở ĐBSCL.
Viện cũng đã xây dựng thành công quy trình quản lý vận hành hệ thống thủy lợi
Nam Măng thít (2007, Trà Vinh) có ứng dụng công nghệ quản lý quan trắc tự động
theo công nghệ tiên tiến.
4- Vật liệu mới, công nghệ mới trong xây dựng thủy lợi
Viện là một trong những đơn vị
tiên phong trong việc ứng dụng vải địa kỹ thuật cho các công trình thủy lợi,
giao thông, xây dựng ở phía Nam. Từ năm 2002 Viện bắt đầu nghiên cứu việc sử
dụng cọc bản bêtông dự ứng lực cho xây dựng thủy lợi ở ĐBSCL và áp dụng đầu tiên
ở công trình kè Gành Hào (Bạc Liêu) năm 2003. Từ năm 2005, Viện KHTL miền Nam đã
đề xuất kết cấu cống lắp ghép bằng cừ bêtông cốt thép dự ứng lực. Kết cấu nầy
hạn chế tối đa việc thu hẹp dòng chảy tự nhiên nên việc xử lý tiêu năng phòng
xói sau công trình đơn giản và ít tốn kém hơn kết cấu cống cũ. Kinh phí đầu tư
chỉ bằng 20-30% so với kết cấu truyền thống có cùng kích thước, thời gian thi
công nhanh và phù hợp với điều kiện kinh tế kỹ thuật của các địa phương. Đến nay
có hàng loạt công trình cống theo kết cấu này đã được ứng dụng ở các tỉnh phía
Nam. Giải pháp này đã đọat được nhiều giải thưởng của Bộ, Thành phố và Nhà nước.
Viện là đơn vị đầu tiên trong cả
nước ứng dụng đập cao su vào Việt Nam từ năm 1997 với đập cao su Ngọc Khô- Quảng
Nam. Năm 2000 Viện đã thiết kế thi công thành công đập cao su Nam Thạch Hãn-
Quảng Trị lớn nhất Việt Nam (dài 140m), công trình được nâng cấp mở rộng năng
lục năm 2008. Đến nay Viện đã xây dựng thành công hàng loạt các đập cao su ở các
tỉnh miền Trung, Đông Nam bộ và Tây nguyên với vật liệu đập chế tạo trong nước
thay thế sản phẩm nhập ngoại, về kỹ thuật thiết kế và thi công do chuyên gia của
Viện thực hiện thay thế hoàn toàn cho chuyên gia nước ngoài trong những năm đầu
áp dụng công nghệ này.
Viện là đơn vị tiên phong trong
nghiên cứu xây dựng mạng quản lý điều khiển quan trắc tự động các hệ thống thủy
lợi. Từ năm 2002 đến nay, Viện đã thực hiện thành công mạng điều khiển quan trắc
tự động cho các hệ thống thủy lợi: Gò Công (Tiền Giang), Nam Măng Thít (Trà Vinh),
Củ Chi (TP. HCM), Tân Hưng (Tây Ninh). Thành công của các dự án này mở ra triển
vọng tiến tới tự động hóa mạng lưới quản lý điều khiển các công trình thủy lợi
theo công nghệ hiện đại đầu tiên áp dụng ở Việt Nam.
5- Những đóng góp của Viện đối với TP. Hồ Chí Minh
Đóng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh,
Viện luôn xác định nghĩa vụ của mình đối với thành phố. Ba mươi năm qua, Viện đã
triển khai nhiều đề tài dự án trong lĩnh vực thủy lợi phục vụ các mục tiêu kinh
tế- xã hội và bảo vệ môi trường của thành phố như: nghiên cứu nhu cầu nước cho
vùng chuyên canh rau ở Tân Bình (1979-1982), cải tạo đất phèn ở Thủ Đức
(1979-1983), dự án bảo vệ bờ biển thị trấn Cần Giờ (1993), nghiên cứu môi trường
dự án Hóc Môn- Bắc bình Chánh (1997- 2001), nghiên cứu biến đổi lòng dẫn sông
Sài Gòn - Đồng Nai (2001), dự án quản lý hệ thống tưới Củ Chi (dự án ACIAR, Úc,
2001), dự án bảo vệ bờ sông Sài Gòn khu Bình Triệu, bán đảo Thanh Đa, Mương
Chuối - Nhà Bè (2002 - 2008), nghiên cứu tác động môi trường bờ hữu sông Sài Gòn
(2002), nghiên cứu cơ sở khoa học mở tuyến luồng Lòng Tàu- Soài Rạp (2006-2008),
dự án hỗ trợ kỹ thuật phòng lũ hạ du sông Sài Gòn do AFD tài trợ (2008), dự án
quy hoạch thủy lợi chống ngập úng TP.Hồ Chí Minh (2008), dự án Xác định mép bờ
cao quy hoạch sông Sài Gòn (2008), dự án Cống Ruột Ngựa Quận 6 (2008) và nhiều
đề tài dự án khác...
----------------------------
Những thành tựu mà Viện Khoa học
Thủy lợi miền Nam đã làm được trong 30 năm qua tuy còn khiêm tốn, nhưng cũng hết
sức đáng tự hào. Đó là kết quả của những năm tháng lao động cần cù, nghiêm túc
và vượt qua nhiều khó khăn, thách thức của toàn thể các thế hệ cán bộ - công
chức của Viện.
Thành quả của Viện 30 năm qua
không tách rời sự chỉ đạo và giúp đỡ quý báu của lãnh đạo Bộ Thủy lợi (cũ) và Bộ
Nông nghiệp và PTNT ngày nay, các Vụ và cơ quan quản lý chức năng của Bộ và các
Bộ ngành Trung ương khác, các Viện và Trường liên quan.
Sự trưởng thành của Viện hôm nay
có sự đóng góp không nhỏ của lãnh đạo và cán bộ Viện Khoa học Thủy lợi đã đào
tạo và san sẻ cho Viện nhiều cán bộ đầu đàn có kinh nghiệm. Viện luôn ghi ơn các
đồng chí Đào Khương- nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi, đồng chí Nguyễn
Thanh Ngà - nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi, nguyên Phân Viện trưởng
Phân Viện Nghiên cứu Khoa học Thủy lợi miền Nam, đồng chí Cù Xuân Đồng, nguyên
quyền Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học Thủy lợi Nam bộ, đã có công xây dựng
và phát triển Viện trong những chặng đường đầu tiên. Sự trưởng thành của Viện
ngày nay cũng gắn liền với công sức của Anh hùng lao động - GS.TSKH Nguyễn Ân
Niên, nguyên Viện trưởng từ 1992- 1998 và những đóng góp to lớn của GS.TS. Lê
Sâm, nguyên Viện trưởng từ 1999- 2007.
Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập,
song song với niềm phấn khởi tự hào, tập thể lãnh đạo và cán bộ công chức của
Viện tự hứa phải tiếp tục nỗ lực tự thân, cải tiến sắp xếp tổ chức và đội ngũ,
nâng cao bản lĩnh và khả năng nghiên cứu khoa học với tinh thần trách nhiệm cao,
phát huy tối đa năng lực của mỗi cá nhân và tập thể để thích ứng với cơ chế tự
chủ tự chịu trách nhiệm trong giai đoạn mới.
Với những thành quả đạt được trong
30 năm xây dựng và phát triển, toàn thể cán bộ công chức của Viện Khoa học Thủy
lợi miền Nam tin tưởng rằng bước qua một chặng đường mới, Viện sẽ tiếp tục phát
huy và nâng cao năng lực để tiếp tục đón nhận những vận hội mới, vượt qua những
thách thức mới, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa
nông nghiệp nông thôn tại các tỉnh phía Nam.
TP. Hồ chí Minh, tháng 7/2008
|