Nghiệm thu đề tài độc lập cấp Nhà nước mã số ĐTĐL-2004/16 [20/06/2006]
Đề tài độc lập: Đề tài độc lập cấp Nhà nước mã số ĐTĐL-2004/16 Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ xây dựng hệ thống đê bao, bờ bao nhằm phát triển bền vững vùng ngập lũ Đồng bằng sông Cửu Longdo Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam chủ trì, GSTS. Trần Như Hối làm chủ nhiệm đề tài, thời gian thực hiện 24 tháng (1/2004-12/2005) đã được Hội đồng nghiệm thu cấp Nhà nước (thành lập theo quyết định số 1242/QĐ-BKHCN ngày 31/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ) nghiệm thu chính thức vào ngày 20/6/2006.
Đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu đánh giá thuộc loại KHÁ (theo quy định đánh giá nghiệm thu đề tài khoa học và công nghệ cấp Nhà nước ban hành theo quyết định số 13/2004/QĐ-BKHCN ngày 25/5/2004 của Bộ Khoa học và Công nghệ)
Báo cáo tóm tắt
1. Tên đề tài, dự án, mã số :
Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ xây dựng Hệ thống đê bao, bờ bao nhằm phát triển bền vững vùng ngập lũ Đồng bằng sông Cửu Long.
Thuộc chương trình : đề tài độc lập
2. Cơ quan chủ trì thực hiện : Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam
3. Chủ nhiệm đề tài, dự án : GS.TS. Trần Như Hối
4. Thời gian thực hiện : Từ 01/01/2004 đến 30/12/2005 (24 tháng)
Theo hợp đồng số 16/2004/HĐ-ĐTĐL ngày 29/04/2004
5. Kết quả thực hiện đề tài, dự án (nêu các kết quả nổi bật có ý nghĩa khoa học và triển khai áp dụng tốt)
5.1. Giá trị khoa học ( tính mới, tính sáng tạo đã đạt được)
Những đóng góp mới của đề tài
Trên cơ sở so sánh với những thông tin đã được công bố trên các ấn phẩm trong và ngòai nước đến thời điểm kết thúc đề tài. Đề tài có những điểm mới sau đây:
A. Về giải pháp khoa học công nghệ:
1. Bổ sung điều chỉnh quy hoạch:
a. Trong những năm lũ lớn và lũ sớm như năm 2000, 2001 để hạn chế nước lũ dâng cao dọc biên giới, ảnh hưởng đến Campuchia, cần phải mở thông một số công trình kiểm soát lũ ở phía sông Tiền như kênh 2/9, Kháng Chiến, Bình Thành, Thống Nhất để tăng khả năng thoát lũ và cần xây thêm tuyến đê bao ngăn lũ phía bờ Đông kênh Phú Thành để bảo vệ lúa Hè Thu cho phần lớn diện tích Đồng Tháp Mười.
b. Cần xây dựng tuyến đê bao bờ tả sông Vàm Cỏ Đông và các cống dưới đê để giảm ảnh hưởng lũ đến TP.HCM và kết hợp lấy nước tưới, phát triển giao thông nông thôn.
c. Nếu cần lấy nước mặn vào nuôi tôm vùng vên biển Tây thì phải xây dựng cống riêng lấy nước mặn, mà không được sử dụng đồng thời cống ngăn mặn, thoát lũ ven biển Tây, vì đây là hệ thống liên thông, chỉ cần mở một cống là mặn sẽ xâm nhập sâu vào nội đồng, gây ảnh hưởng đến cả vùng rộng lớn.
d. Quy mô bờ bao cho hiệu quả kinh tế - kỹ thuật là khoảng 500 – 3000ha tùy từng nơi, và ô bao nên kết hợp phát triển giao thông nông thôn.
e. Nên dỡ bỏ hệ thông đê bao cả năm vùng kênh Năm Xã (An Giang) vì cản trở dòng chảy lũ, dâng cao mực nước biên giới phía Campuchia và 2 rìa vùng ngập lũ của ĐBSCL và hàng năm phải gia tăng kinh phí bảo quản, duy tu, nỗi lo thường trực của chính quyền địa phương và trung ương.
f. Cần phải lập ngay ban quản lý các hệ thống công trình thủy lợi các vùng TGLX và ĐTM để điều hòa, giải quyết kịp thời yêu cầu của các địa phương và tránh được các mâu thuẫn không đáng có.
2. Công nghệ thiết kế thi công:
a. Lần đầu tiên, lập hướng dẫn vận hành, tổ chức cơ cấu quản lý các vùng lớn, các hệ thống công trình đầu mối, đê bao bảo vệ các đô thị và khu tuyến dân cư, bờ bao nội đồng của 3 vùng ngập lũ nhằm phát triển bền vững.
b. Lần đầu tiên, lập quy trình hướng dẫn thiết kế, thi công, quản lý đê bao, bờ bao, các cống dưới đê, cống cắt qua đê cho các vùng địa chất, địa hình khác nhau của vùng ngập lũ.
c. Lần đầu tiên, nghiên cứu sử dụng vật liệu mới xơ dừa và đề ra công nghệ thiết kế, thi công đê bao có cốt liệu xơ dừa cho những đoạn đê qua lòng kênh rạch bồi lấp. Trình diễn các công nghệ thiết kế thi công đê, cống cho vùng bao 1400ha, với chiều dài toàn tuyến 3838m trong đó có 400m dài có sử dụng cốt liệu xơ dừa tại xã Mỹ Thành Bắc.
B. Về phương pháp nghiên cứu:
1. Sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn với sự tham gia của người dân vùng ngập lũ và các nhà quản lý địa phương để nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của các mô hình đê bao đã tồn tại từ 1(( 6 năm ở các vùng có chế độ ngập khác nhau, điều tra kinh tế – xã hội chi tiết để lựa chọn mô hình đê bao thích hợp theo tiêu chí phát triển bền vững vùng ngập lũ.
2. Lấy tính toán thủy lực làm điềm xuất phát lên quy hoạch bờ bao và là cơ sở để đánh giá kiểm tra phương án bao. Xác lập trên mô hình tính toán về hệ quả thủy lực của các lọai công trình thuộc hệ thống công trình kiểm soát lũ nhằm định ra phạm vi các vùng bao, quy mô kích thước bờ bao và cao trình vượt lũ các loại công trình trong vùng ngập lũ.
5.2 Các dạng sản phẩm đã tạo ra (nêu các dạng sản phẩm, các chỉ tiêu chất lượng chủ yếu của đề tài, dự án )
- Sử dụng thảm lưới xơ dừa làm cốt đất và bấc thấm để đắp đê
|
Kỹ thuật, chỉ tiêu chất lượng đối với sản phẩm tạo ra
|
|
TT
|
Tên sản phẩm và chỉ tiêu chất luợng chủ yếu
|
Đơn vị đo
|
Mức chất lượng
|
Số lượng sản phẩm tạo ra
|
|
Cần đạt
|
Mẫu tương tự
|
|
Trong nước
|
Thế giới
|
|
(1)
|
(2)
|
(3)
|
(4)
|
(5)
|
(6)
|
(7)
|
|
1
|
1.1. Lưới thảm xơ dừa: đường kính sợi d = 8-12mm, dệt thành lưới ô vuông 2,5 x 2,5 cm, kích thước tấm 2mx20m
|
m
|
Lực kéo: 3,5kG/sợi
Lực ma sát với đất: 0,435kG/cm
|
|
|
21.000m2
|
|
1.2 Đê có cốt thảm xơ dừa
|
m
|
Tăng chỉ tiêu lực học (,c; giảm kích thước mặt cắt đê
|
|
|
400m dài
|
|
2
|
Mô hình thực nghiệm đê bao dân cư và bờ bao sản xuất ở tỉnh Tiền Giang:
2.1. Đoạn tuyến đê bao 1 tháng 5 thuộc Mỹ Thành Bắc
2.2. Đoạn tuyến bờ bao sản xuất kênh Cây Kè
|
|
Đê bao đảm bảo không tràn, không ngập.
Bờ bao đảm bảo thu hoạch Hè – Thu, và xuống giống sớm Đông Xuân.
|
|
|
3838m dài
1700m dài
|
|
3
|
Quy trình hướng dẫn thiết kế thi công quản lý vần hành hệ thống đê bao, bờ bao cho 3 vùng ngập lũ
|
|
Có căn cứ khoa học để xây dựng tiêu chuẩn
|
|
|
Quy trình dùng cho:
- Vùng ngập sâu
- Vùng ngập vừa
- Vùng ngập nông
|
|
4
|
Phương pháp tính toán các thông số đặc trưng để làm cơ sở thiết kế đê bao, bờ bao đất có cốt thảm xơ dừa
|
|
Đạt độ chính xác tin cậy
|
|
|
Phương pháp tính
|
- Số công trình khoa học công bố trong nước (danh mục số bài báo, báo cáo tại Hội nghị):
2 bài báo được công bố ở tạp chí Khoa học Công nghệ của Bộ NN & PTNT là:
- “ Một số nhận xét về hiện trạng hệ thống đê bao, bờ bao vùng ngập lũ Đồng bằng sông Cửu Long” – số 9/2005
- “ Củng cố xây dựng hệ thống đê bao, bờ bao nội đồng phù hợp quy hoạch lũ phục vụ phát triển bền vững ĐBSCL” – số 10/2005
- Số đầu sách được xuất bản (danh mục số đầu sách)
Xuất bản một cuốn sách; danh mục:
- “Đê bao vùng ngập lũ Đồng bằng Sông Cửu Long” - NXB Nông Nghiệp - 2005